Gặp mẹ trong mơ (Mother in the dream)

“Tuổi thơ con khuất mẹ cha / Nay nghe câu hát mắt nhoà niềm riêng” Tôi lặng người nhớ mẹ và khóc lặng lẽ khi nghe  bài hát  Gặp mẹ trong mơ (Mother in the dream) của cậu bé 12 tuổi làm cả triệu người rơi nước mắt. Cảm ơn sự kết nối , chuyển ngữ và giới thiệu của những người bạn.

Bài hát của cậu bé 12 tuổi
làm cả triệu người rơi nước mắt

Ngay từ khi bước ra sân khấu China Got’s Talent, khán giả đã cực ấn tượng với bộ trang phục giống một “chiến binh hào hiệp” Mông Cổ ngày xưa, với đai lưng và đôi bot cao cổ của Uudam – cậu bé mồ côi 12 tuổi đến từ miền cao nguyên xa xôi với những đồng cỏ non xanh mướt.
Ban Giám khảo hỏi:
-Tại sao con hát bài này? – Khi con nhớ mẹ, con hát bài này”
-Ước mơ của con là gì?
– Phát minh ra một loại mực, mà khi mực rơi đến đâu, thế giới chuyển sang màu xanh (cỏ).
-Thế mẹ con ở đâu?
-Mẹ con ở trên trời”
-Thế còn bố con?
-Bố con đã ra đi sau một vụ tai nạn.

Cách đối đáp thông minh, khuôn mặt sáng ngời của Uudam khiến nhiều người nghĩ rằng cậu bé sẽ thể hiện một ca khúc sôi động, nhưng không, khi nghe những lời tâm sự của em và đặc biệt khi em cất lên giọng hát – cả khán phòng China Got’s Talent lặng đi vì xúc động. Không phải ai cũng hiểu nội dung bài hát của em, thế nhưng giọng hát trong sáng, truyền cảm ấy lay động trái tim của tất cả mọi người. Khi được hỏi tại sao lại chọn ca khúc “Mother in the dream” để dự thi , Uudam thành thật trả lời: “Em lúc nào cũng hát bài này mỗi buổi sáng thức dậy. Em hát vì nhớ mẹ, hát để cho mẹ ở trên thiên đường nghe thấy giọng của em”.

Trong lúc thể hiện ca khúc dự thi của mình, Uudam luôn hướng cánh tay bé nhỏ lên trên như muốn gửi tất cả lời ca tiếng hát tới người mẹ yêu dấu. Uudam hát bằng chính con tim, bằng chính nỗi nhớ da diết và ước mơ được gặp người mẹ đã rời xa em từ lâu lắm rồi. Bài hát rung động lòng người của cậu bé mồ côi nhận được vô số những lời khen tặng từ 3 vị giám khảo. Annie, nữ giám khảo trẻ tuổi đã khóc rất nhiều khi nghe ca khúc của Uudam: “Tôi hy vọng Uudam sẽ có được những người mẹ tốt, quan tâm em như chính những gì em mong muốn, thể hiện trong bài hát. Chắc hẳn tất cả những người mẹ ở đây đều sẽ yêu quý một đứa bé ngoan ngoãn như Uudam”.

Ước mơ của cậu bé trong tương lai không phải mong có một gia đình giàu có, cũng không phải có một người mẹ hiền thứ hai mà rất ngây thơ, giản dị là “muốn phát minh ra một loại mực đặc biệt, khi đổ xuống đất nó sẽ biến cả hành tinh này thành một đồng cỏ xanh tươi, để mọi người luôn được sống vui vẻ và hạnh phúc”.

LỜI BÀI HÁT :

Trong đất trời bao la rộng lớn,
Em mơ thấy mẹ đang cầu nguyện cho em,
Me đưa cho em sữa, thứ quý giá của đất trời,
Mẹ của em ở một nơi rất xa.

Trong khi những vì sao đang lấp lánh trên đồng cỏ xanh,
Em lại nghĩ về khuôn mặt ân cần của mẹ.
Mẹ ở thiên đường và cầu nguyện cho em một cuộc sống bình an, hạnh phúc.
Mẹ đang ở một nơi rất xa…

Trong giấc mơ, em thấy ngôi nhà thân yêu của mình hiện ra dưới ánh nắng mặt trời.
Và mẹ đang hát những khúc ca êm đềm. Có một dải cỏ xanh trải dài trước nhà em.
Mẹ em đang ở một nơi rất rất xa và chờ đợi em trở về…

Gởi cho mẹ những “bông hoa thánh sương”
Con có thể cảm nhận được từ ánh mắt của mẹ
Con của mẹ đã bị đánh thức bởi giấc mơ
Hãy đến đây mẹ của con

Con của mẹ đã bị đánh thức bởi giấc mơ
Hãy đến đây mẹ của con
Con mơ cỡi chim bạc bay trên bầu trời
Con mơ mẹ mang cho con hạnh phúc

Con trai của mẹ đang đến và làm ơn hãy đợi con

Your son is coming over. mother please wait for me
Con trai của mẹ đang đến với mẹ. mẹ ơi đợi con.

Uudam cho biết bài hát này cậu đã hát nhiều lần những khi nhớ mẹ, và cậu luôn ao ước có mẹ ngồi bên, được chứng kiến cậu hát trên sân khấu…

Bạn có thể nghe bài Gặp mẹ trong mơ qua phổ lời Việt của Lê Tự Minh, giọng hát của Thùy Chi

Này bầu trời rộng lớn ơi, có nghe chăng tiếng em gọi.
Mẹ giờ này ở chốn nao, con đang mong nhớ về mẹ.
Mẹ ở phương trời xa xôi, hay sao sáng trên bầu trời.
Mẹ dịu hiền về với con nhé, con nhớ mẹ.

Lời nguyện cầu từ chốn xa, mong ước con yên bình.
Mẹ thật hiền tựa nắng mai ấp ôm con tháng ngày.
Mẹ giờ này ở chốn rất xa, trong mơ con đã thấy mẹ.
Mẹ dịu dàng hát khúc ca, sao con thấy mẹ buồn.

Nhìn cánh đồng xa xanh, con nhớ mong về mẹ.
Mẹ trở về với con ấm áp bên mái nhà.
Và từ bầu trời rất cao, mong ước con yên bình.
Mẹ ngồi buồn ở chốn xa nhớ thương con vắng mẹ.

Gửi về mẹ nhiều cánh hoa, thắm sương long lanh giữa núi đồi.
chợt giật mình tỉnh giấc mơ, sao không thấy mẹ.
nghẹn ngào thương mẹ bao la, mong đến bên mẹ hiền.
Mẹ ở lại với con nhé, con đến với mẹ.

Mẹ nguyện cầu và ước mong, con sống trong yên lành.
Mẹ hiền nào biết không con chỉ mong có mẹ.
Và từ bầu trời rất cao, mong nhớ con mỗi ngày.
Mẹ đừng buồn nhiều nữa nhé con đang đến, mẹ ơi.

và tải ca khúc này dưới dạng mp3 tại:http://music.tamtay.vn/play/543076

H K (sưu tầm)
Nguồn : BachHuong2

Trở về trang chính

CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Advertisements

Đọc và suy ngẫm Nguyễn Đổng Chi

HỌC MỖI NGÀY . Nguyễn Đổng Chi nói với con trai: “Bố thấy ở Liên Xô có hai điều đáng lưu ý: Một là việc nghiên cứu Đông phương học của họ đến nơi đến chốn, chứ không phải là nóng đâu phủi đấy như chúng ta. Họ giải quyết việc gì cũng rất hệ thống. Nhưng điều thứ hai bố thấy họ có chỗ này không được: tức là họ vẫn đặt công việc nghiên cứu vào một đường rãnh (chính trị – khi thuật lại, con trai ông thêm vào cho rõ ý người nói) mà mọi người đều phải trượt trên cái đường rãnh ấy; cuối cùng thì người nào cũng quy về một điểm mà không còn nhìn thấy sự đa dạng trong nghiên cứu nữa.” Thật ra nước mình không phải là một nước có lý luận và cũng không có triết học, chỉ là một nước thực tiễn thôi. Cho nên việc nóng đâu phủi đấy là chuyện bình thường. Và việc mà bố gán cho Phan Khôi là học mót cái thực dụng của Hồ Thích mà Hồ Thích thì học mót của J. Dewey, là sai. Bởi vì một chủ nghĩa thực dụng như của J. Dewey nhìn cho thấu đáo là lớn lắm chứ không thể coi thường, và chuyện ông Hồ Thích cắt gọt chỗ này chỗ khác, ông ấy áp dụng vào Trung Hoa cho đúng theo điều kiện thực tiễn của Trung Hoa, cái đó cũng bình thường. Còn chúng ta vốn quen học lại của Trung Hoa cũng chẳng có gì lạ. Do đó, nói rằng Phan Khôi đã học mót Hồ Thích và Hồ Thích thì đã học mót J. Dewey, là một lời phê phán quá nóng vội.Sự khả kính của hai bậc thức giả là cha và con khiến Phan An Sa tự hỏi: Chẳng lẽ chỉ vì vướng cái đinh là bài phê phán Phan Khôi cách đây những 50 năm, mà công trình Nguyễn Đổng Chi toàn tập cứ phải dừng lại, và dừng đến bao giờ?

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Nguyễn Đổng Chi (ngày 6 tháng 1 năm 1915-20 tháng 7 năm 1984) là một nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Việt Nam, nguyên Trưởng Ban Hán Nôm, nguyên Quyền Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
Tiểu sử
•    Ông sinh tại Phan Thiết; Ông quê ở xã Ích Hậu, huyện Can Lộc nay là huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh. sinh trưởng trong một gia đình nhà Nho yêu nước. Cha ông là Nguyễn Hiệt Chi tham gia phong trào Duy Tân ở Nghệ Tĩnh, từng là đồng sáng lập Công ty Liên Thành và Trường Dục Thanh (Phan Thiết), nhiều năm sau về dạy Trường Quốc học Huế và Trường Quốc học Vinh. Chú ruột Nguyễn Hàng Chi bị Pháp xử chém vì cầm đầu phong trào chống thuế ở Nghệ Tĩnh năm 1908. Mẹ là người thuộc dòng họ Hoàng giáp Nguyễn Văn Giai. Trong gia đình ông còn có Giáo sư, nhà dân tộc học Nguyễn Đức Từ Chi; Bác sĩ Nguyễn Kinh Chi Thứ trưởng Bộ Y tế trong thời kháng chiến chống Pháp và Đại biểu Quốc hội Việt Nam dân chủ cộng hòa khóa I-IV, tác giả Du lịch Quảng Bình và Công nghệ Quảng Bình; Giáo sư văn học Nguyễn Huệ Chi; Phó giáo sư, nhà nghiên cứu mỹ thuật cổ Nguyễn Du Chi.
•    Từ năm 1923 đến 1930, ông theo học các trường tiểu học ở Vinh, Hà Tĩnh, Đồng Hới, học trung học tại Vinh và học chữ Hán, chữ Nôm tại nhà.
•    Năm 1934, ông theo anh trai lên Kon Tum nghiên cứu và cùng viết sách về tộc người Ba Na.
•    Năm 1935, ông làm phóng viên cho tờ Thanh-Nghệ-Tĩnh, một tuần báo ở Vinh, cộng tác với nhiều báo chí trong Nam ngoài Bắc, bắt đầu viết truyện với biệt hiệu Nguyễn Trần Ai. Đồng thời viết phóng sự Túp lều nát nổi tiếng (1937) bị Mật thám Pháp theo dõi, nghiên cứu sử học và văn học, xuất bản nhiều công trình gây tiếng vang trong học giới, trong đó có công trình Đào Duy Từ được giải khuyến khích của Học hội Alexandre de Rhodes năm 1943.
•    Từ 1939 ông tham gia phong trào dân chủ phản đế, tham gia lãnh đạo Đoàn thanh niên cứu quốc Can Lộc, tổ chức Đội vũ trang cướp chính quyền Can Lộc thành công ngày 15-8-1945 sớm nhất trong toàn quốc. Cuối năm này ông làm Trợ bút báo Kháng địch, Chủ bút báo Truyền thanh và giữ chức Chủ tịch Hội Văn hóa cứu quốc Nghệ An.
•    Cuối 1946 ông ra Hà Nội và tham gia Đội tự vệ tại Khu phố Triệu Việt Vương, cầm cự với quân Pháp ở mặt trận Nam Hà Nội trong vòng 2 tháng.
•    Từ tháng 3-1947 ông trở về công tác kinh tế tài chính ở Khu IV, làm Chánh văn phòng Đồn điền Bà Triệu (Phủ Quỳ), Chánh văn phòng Ban Kinh tài Liên khu IV, làm báo Cứu quốc Liên khu IV và Giám đốc Nhà xuất bản Dân chủ mới Liên khu IV. Năm 1952 bị đau, ông chuyển sang đi dạy học ở Trường trung học Nguyễn Hàng Chi (Hà Tĩnh). Trong phong trào Phát động Giảm tô ở Nghệ Tĩnh 1953 ông bị khai trừ Đảng tịch.
•    Từ 1955 đến 1975, ông lần lượt công tác ở Ban nghiên cứu Văn Sử Địa, Viện Sử học, là thành viên Ban Cổ sử và Trưởng phòng Tư liệu Thư viện, khởi đầu việc xây dựng hệ thống thư mục chuyên đề về sử học và cùng các học giả khác hiệu đính nhiều công trình dịch thuật Hán Nôm quan trọng của Viện.
•    Sau 1975, ông từng là Trưởng ban Hán Nôm (tiền thân của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, 1978), rồi Quyền Viện trrưởng Viện nghiên cứu Hán Nôm, cho đến 1981 thì xin chuyển sang làm chuyên viên nghiên cứu của Ban Văn hóa dân gian (tiền thân của Viện Nghiên cứu Văn hóa dân gian).
•    Ông mất ngày 20 tháng Bảy năm 1984 tại Hà Nội.
•    Năm 1984, ông được phong học hàm Giáo sư. Ông được truy tặng Huân chương Độc lập hạng Nhì và Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I năm 1996.
Cống hiến
•    Cố Giáo sư Nguyễn Đổng Chi đã sưu tầm và viết lại gần 2.000 truyện cổ Việt Nam và quốc tế. Số truyện trên được ông sử dụng để soạn bộ sách Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam gồm 5 tập. Đây cũng là bộ sách nghiên cứu được biên soạn và in xong lâu nhất: 25 năm (1957-1982), rải rác với tổng cộng 5 lần in lẻ.
•    Với cuộc đời từng trải, với hơn 50 năm cầm bút, phạm vi chủ yếu của Nguyễn Đổng Chi thật rộng: sáng tác văn học, nghiên cứu văn học viết, nghiên cứu lịch sử, nghiên cứu Hán – Nôm, ở lĩnh vực nào ông cũng có những đóng góp đột xuất, như công trình Việt Nam cổ văn học sử lần đầu tiên đưa văn học chữ Hán của người Việt vào văn học sử và nghiên cứu văn học sử theo thể loại, loại hình, kiểu nhà văn…, công trình về nông dân khởi nghĩa lý giải uyển chuyển nguyên nhân bùng phát của khởi nghĩa nông dân không đơn thuần do nghèo khổ mà bắt nguồn có ý thức từ tư tưởng chống đối của tầng lớp tiểu trí thức, hay việc phát hiện di chỉ đồ đá cũ ở núi Đọ, Thanh Hóa năm 1960… Nhưng cống hiến nổi bật hơn cả của ông là ở lĩnh vực sưu tầm, nghiên cứu văn học, văn hóa dân gian, được coi là một trong những nhà văn hóa dân gian hàng đầu, nhất là những kiến giải mới mẻ về loại hình truyện cổ tích Việt Nam trong tương quan với cổ tích thế giới. Ông là người đầu tiên xâu chuỗi các motif truyện cổ tích Việt Nam với cổ tích của nhiều nước.
•    Ông cũng đã viết những báo cáo khoa học chứng minh cứ liệu lịch sử về các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đệ trình chính phủ Việt Nam.
•    Giáo sư Nguyễn Đổng Chi còn có công kế tục xây dựng Mộng Thương thư trai do thân phụ ông sáng lập cuối thế kỷ 19, một thư viện gia đình lớn bậc nhất ở Nghệ Tĩnh (cùng với thư viện Cao Xuân Dục ở Diễn Châu), là một trong những “nguồn sữa” nuôi dưỡng nên các nhà văn hóa của gia đình Nguyễn Chi (xem thêm bài Hồng Lĩnh và Lộc Hà, Can Lộc ở phần tham khảo).
Ông được Nhà nước Việt Nam trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 năm 1996.
Tác phẩm
•    Mọi Kontum (soạn chung với Nguyễn Kinh Chi, 1937)
•    Việt Nam cổ văn học sử (1941)
•    Đào Duy Từ. Giải thưởng Học hội Alexandre de Rhodes. 1943
•    Hát giặm Nghệ-Tĩnh (1943), viết lại thành 3 tập công bố 1961-1963
•    Thoái thực kí văn tập I (đồng dịch giả). Nxb. Tân Việt, H. 1944
•    Phạm Hồng Thái, Nxb Ngàn Hống, H. 1945
•    Lước sử các cuộc cách mạng trên thế giới, 3 tập, Nxb. Ngàn Hống, H.1946
•    Nguyễn Trãi, nhà văn học và chính trị thiên tài (1957)
•    Lược thảo về thần thoại Việt Nam (1956)
•    Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam (đồng tác giả, năm quyển, 1958-1960)
•    Vè Nghệ Tĩnh (Chủ biên) 3 tập. Nxb. Văn học, H. 1965
•    Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (5 tập 1957-1982)
•    Thời đại Hùng Vương (đồng tác giả, 1973)
•    Góp phần tìm hiểu phong trào nông dân Việt Nam trong lịch sử xã hội phong kiến (1968-1978)
•    Chiến thắng Rạch Gầm-Xoài Mút (1977)
•    Địa chí văn hóa dân gian Nghệ-Tĩnh (1982-1983, in 1995)
•    Phương pháp sưu tầm văn học dân gian ở nông thôn (Biên soạn cùng với Cao Huy Đỉnh và Đặng Nghiêm Vạn, 1966)
•    Thư mục và sách dẫn Tập san Văn Sử Địa và Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, H. 1973
•    Thư tịch cổ nhiệm vụ mới (Chủ biên, 1977)
•    Một số vấn đề văn bản học Hán Nôm ( Chủ biên, 1983)
•    Nghề nông cổ truyền Việt Nam qua thư tịch Hán Nôm (Chủ biên, 1979-1980, in 1985)
•    Ca dao Nghệ Tĩnh (đồng tác giả). Nxb. Nghệ Tĩnh, Vinh. 1985
•    Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh (chủ biên). Nxb. Nghệ An, Vinh, 1995
•    Thối thực ký văn (dịch chung với Nguyễn Lợi, 1944)
•    Một số tiểu thuyết, phóng sự trước năm 1954 như: Yêu đời (1935, được giải thưởng thứ hai của báo Bạn trẻ), Túp lều nát (1937), Gặp lại một người bạn nhỏ (viết về những ngày đánh Pháp tại Hà Nội, 1949)…và khoảng hơn 100 bài báo trên các tạp chí Văn Sử Địa, Nghiên cứu Lịch sử, Khảo cổ học, Tạp chí Văn học, Nghiên cứu văn hóa dân gian, Nghiên cứu Hán Nôm.
Xem thêm
•    Hà Tĩnh
•    Can Lộc
•    Lộc Hà
Tham khảo
Liên kết ngoài
•    Giáo sư Nguyễn Đổng Chi
•    Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Đổng Chi
•    Hồng Lĩnh
•    Nguyễn Đổng Chi: người kể truyện cổ tích Việt Nam
•    Nguyễn Đổng Chi – Từ chiến sĩ của Cách mạng tháng Tám đến nhà khoa học
•    Giáo sư Nguyễn Đổng Chi
•    Văn học dân gian và tình yêu say đắm…

 Thông tin tư liệu ở Viện Hán Nôm


GIÁO SƯ NGUYỄN ĐỔNG CHI
Nguyên Trưởng Ban Hán Nôm
Nguyên Q. Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm
(1977 – 1982)

          Giáo sư NGUYỄN ĐỔNG CHI

Tên gọi khác: Bạch Hào, Nguyễn Trần Ai, Bình Ân.

Sinh ngày: 6-1- 1915

Mất ngày: 20 – 7- 1984

Quê quán: Ích Hậu, Can Lộc, Hà Tĩnh

Được Nhà nước phong học hàm PGS năm 1980.

Công tác tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm: từ năm 1977 đến năm 1981.

Chức vụ cao nhất đã đảm nhiệm ở Viện: Quyền Viện trưởng.

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ

Sách

1. Kho sách bạn trẻ, 5 tập, Vinh, 1932 – 1933

2. Yêu đời. Vinh, 1935

3. Mọi Kontum, (cùng Nguyễn Kinh Chi), Huế, 1937

4. Túp lều nát. Vinh, 1937, Nxb. Văn học Hà Nội, tái bản 1999

5. Việt Nam cổ văn học sử, quyển I. Nxb. Hàn Thuyên, H. 1942

6. Hát dặm Nghệ Tĩnh, Nxb. Tân Việt, H, 1943

7. Đào Duy Từ. Giải thưởng Học hội Alexandre de Rhodes. 1943

8. Thoái thực kí văn tập I (đồng dịch giả). Nxb. Tân Việt, H. 1944

9. Phạm Hồng Thái, Nxb Ngàn Hống, H. 1945

10. Lước sử các cuộc cách mạng trên thế giới, 3 tập, Nxb. Ngàn Hống, H.1946

11. Gặp lại một người bạn nhỏ, Nxb. Hội nhà văn, H. 1957

12. Lược khảo về thần thoại Việt Nam, Nxb. Văn sử địa, H. 1956

13. Sơ khảo lịch sử văn học Việt Nam, 5 tập (đồng tác giả), Nxb. Văn sử địa và Nxb Sử học, H. 1957-1960

14. Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, 5 tập. Nxb. Văn sử địa, Nxb. Sử học, Nxb. Khoa học xã hội, H. 1958-1982

15. Nguyễn Trãi – nhà văn học và chính trị thiên tài (đồng tác giả). H. 1958

16. Hát dặm Nghệ Tĩnh, 3 tập. Tập I nghiên cứu, tập II và tập III sưu tầm (đồng tác giả). Nxb. Sử học, H. 1962-1963

17. Vè Nghệ Tĩnh (Chủ biên) 3 tập. Nxb. Văn học, H. 1965

18. Phương pháp sưu tầm văn học dân gian ở nông thôn (đồng tác giả). Vụ nghệ thuật Bộ Văn hóa, H. 1969

19. Thư mục và sách dẫn Tập san Văn Sử Địa và Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, H. 1973

20. Thời đại Hùng Vương (đồng tác giả). Nxb. KHXH, H. 1973

21. Chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút. Sở Văn hóa Tiền Giang, 1977

22. Nguyễn Trãi, phí phách và tinh hoa của dân tộc (đồng tác giả). Nxb. H. 1980

23. Văn học Việt Nam trên những chặng đường chống xâm lược (đồng tác giả). Nxb. KHXH, H. 1982

24. Lọ nước thần. Nxb. Khăn quàng đỏ, Tp. Hồ Chí Minh, 1983

25. Ca dao Nghệ Tĩnh (đồng tác giả). Nxb. Nghệ Tĩnh, Vinh. 1985

26. Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh (chủ biên). Nxb. Nghệ An, Vinh, 1995

Và khoảng hơn 100 bài báo trên các tạp chí Văn Sử Địa, Nghiên cứu Lịch sử, Khảo cổ học, Tạp chí Văn học, Nghiên cứu văn hóa dân gian, Nghiên cứu Hán Nôm.

Vì sao Nguyễn Đổng Chi phải viết bài phê phán Phan Khôi?

– Sự khả kính của hai bậc thức giả là cha và con khiến người viết bài này tự hỏi: Chẳng lẽ chỉ vì vướng cái đinh là bài phê phán Phan Khôi cách đây những 50 năm, mà công trình Nguyễn Đổng Chi toàn tập cứ phải dừng lại, và dừng đến bao giờ?

Phê phán trên phương diện học thuật…

Cuối tháng 10/1954, Phan Khôi chuyển về Hà Nội và làm việc ở Hội Văn nghệ, còn Nguyễn Đổng Chi sau một thời gian lao đao trong cải cách ruộng đất, đến năm 1955 mới được đưa về Ban Nghiên cứu Văn Sử Địa.

Những năm sau đó là khoảng thời gian Nguyễn Đổng Chi đang ở độ tuổi sung sức, sự dày công sưu tầm, tích lũy, nghiên cứu bao lâu nay đã đến độ chín, bút lực nơi ông trở nên sung mãn, và nhờ thế, ông trở nên nổi tiếng.

phan khoi.JPG
Học giả Phan Khôi bị rơi vào vòng xoáy vụ Nhân văn – Giai phẩm. Ảnh IE

Ngược lại, Phan Khôi đã bước vào tuổi thất thập, tài cũng đã gần chạng vạng như ông tự nhận, và quan trọng hơn là chỉ ít lâu sau ông rơi vào vòng xoáy của vụ Nhân văn – Giai phẩm.

Học giả Nguyễn Đổng Chi, sinh ngày 6/1/1915, nguyên quán là làng Đông Thượng, xã Hậu Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Ông là nhà nghiên cứu văn học, sử học, văn hóa dân gian, nổi tiếng với bộ sách Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam và nhiều tác phẩm khác. Ông làm Viện trưởng Viện Hán Nôm thời kỳ 1978 – 1981, được phong Giáo sư Văn học năm 1984. Ông qua đời tại Hà Nội ngày 20/7/1984, thọ 70 tuổi.

Tuy chênh nhau đến 28 tuổi, nhưng Nguyễn Đổng Chi không lạ Phan Khôi bởi nhiều lẽ. Khi Nguyễn Đổng Chi bắt đầu nghiên cứu văn học và văn hóa dân gian, thì trước đó rất lâu ông đã nghe tiếng Phan Khôi cũng như đọc nhiều bài báo của ông về nhiều lĩnh vực. Rồi trong kháng chiến chống Pháp, công việc nghiên cứu giúp họ biết nhau nhiều hơn.

Trên các tập Giai phẩm, Phan Khôi đăng bài Phê bình lãnh đạo văn nghệ, truyện ngắn Ông bình vôi, một chùm ba bài thơ Hớt tóc trong bệnh viện quân y, Hồng gai và Nắng chiều. Ông nhận lời mời của các văn nghệ sĩ trẻ chủ trương tờ Nhân Văn để làm Chủ nhiệm của tờ báo này mặc dầu ông không tham gia bất cứ việc gì của tờ báo. Trên báo Nhân Văn của Hội Nhà văn, ông đăng truyện ngắn Ông Năm Chuột.

Sự xuất hiện của Phan Khôi trong cái gọi là Nhân văn – Giai phẩm của các năm 1956 – 1958 chỉ có thế. Đến ba, bốn chục văn nghệ sĩ, nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu trong quân đội, ngoài dân sự, các vị giáo sư ở các trường đại học, già có, trẻ có, đã tham gia viết bài cho hai ấn phẩm nói trên đều bị coi là mắc vào nhiều tội, nhưng tội chung là phản động.

Nhiệm vụ đặt ra là phải vạch rõ chân tướng bọn phản động này, đấu tranh tiêu diệt tư tưởng độc hại của chúng và phải xử lý nghiêm khắc từng người tùy theo tội trạng nặng, nhẹ. Phan Khôi bị liệt vào hàng đầu sỏ, bị coi là có tội nặng, nhưng vì ông tuổi cao, uy tín cũng cao nên chỉ bị hai lần điều đến chỗ ở kém tiện nghi hơn, bị khai trừ khỏi Hội Nhà văn, và nghe nói là còn bị cấm công bố tác phẩm.

Đã có nhiều người viết nhiều bài phê phán, chửi rủa, thóa mạ Phan Khôi, thậm chí dựng đứng nhiều chuyện cho ông, nhưng như vậy vẫn chưa đủ. Cần có những bài nghiên cứu đi sâu vào học thuật cũng theo chủ đề ấy để giúp mọi người thấy rõ hơn Phan Khôi là kẻ phản động không phải chỉ ở đầu môi chót lưỡi, mà ngay trong chiều sâu tư tưởng, trên tầm cao lý luận ông ta cũng phản động lắm. Có khó mấy cũng phải tìm cho ra cái tội ấy. Ai cũng đã có việc của người ấy rồi, chỉ còn Nguyễn Đổng Chi, và thế là ông được nhắm đến.

Nguyễn Đổng Chi và con trai ông – Nguyễn Huệ Chi, lúc đó đang là sinh viên Khoa Văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội – trong học thuật, đối xử với nhau bình đẳng như bạn bè, có gì cũng trao đổi với nhau. Khoảng tháng 3/1958, nhân một ngày chủ nhật, hai bố con ông cùng đi chơi phố, từ Ô Đống Mác lên phố Tràng Tiền là nơi có nhiều hiệu sách cả quốc văn lẫn ngoại văn. Đến ngã tư Tràng Tiền rẽ về phía Nhà Hát Lớn, tới gần hiệu Bôđêga, nhìn thấy hai bên đường có những tờ báo treo thòng xuống là chỗ bán sách báo, như sực nhớ ra, Nguyễn Đổng Chi nói với con trai:

Ông Liệu – tức nhà sử học Trần Huy Liệu, Trưởng Ban Nghiên cứu Văn Sử Địa, thủ trưởng trực tiếp của Nguyễn Đổng Chi – có nói với bố là: Phan Khôi thì rõ là sai rồi, bởi vì tự dưng lại đứng ra làm Chủ nhiệm báo Nhân Văn, để cho anh em trẻ nhân danh đòi tự do cho văn nghệ mà thoát ly đường lối lãnh đạo của Đảng, cho nên Phan Khôi phải chịu trách nhiệm về việc ấy. Thế nhưng đối xử với Phan Khôi như thế là không được, bởi vì Phan Khôi là một học giả nổi tiếng và một trí thức lão thành, không thể đánh đồng với những người khác.

Gần 1 tháng sau, một buổi chiều Nguyễn Đổng Chi đi làm về, thái độ lặng lẽ khác với ngày thường, chỉ đi đi lại lại mà không nói gì, rõ ràng là ông đang bận tâm vào một điều gì đó. Người con trai hỏi bố:

– Hôm nay có chuyện gì mà bố có vẻ ưu tư thế? Người bố đáp:

– Bố mới nhận một nhiệm vụ khó nghĩ quá. Người con hỏi nhiệm vụ gì, thì ông trả lời:

– Phải phê phán Phan Khôi. Người con ngạc nhiên, hỏi lại:

– Ủa, sao hôm trước bố đã nói thế rồi kia mà? Người bố đáp

– Nhưng hôm nay thì yêu cầu đặt ra là Tập san Văn Sử Địa phải có một bài phê phán Phan Khôi mà bố được lãnh cái trách nhiệm ấy.

Mấy hôm sau thì Nguyễn Đổng Chi bắt đầu đi thư viện rất miệt mài, đơn giản chỉ vì muốn phê phán Phan Khôi về phương diện học thuật thì phải biết ông ta đã viết gì, nói gì về phương diện ấy, mà về chuyện học thuật thì Phan Khôi đã bàn về quá nhiều lĩnh vực, biết chọn lĩnh vực nào? Khoảng nửa tháng sau, có vẻ là đã tìm ra đề tài, ông nói với con trai:

– Bố sẽ cố gắng chỉ nói về Phan Khôi trong giai đoạn từ 1945 về trước mà thôi. Còn giai đoạn sau, bố không nói, bởi vì xem ra, những bài ông ấy viết trên các báo vừa rồi thì không có gì để nói được. Là bởi vì ông ấy phê phán lãnh đạo văn nghệ, mà việc ông ấy phê phán một cái tập thể đứng ra thẩm định giải thưởng, đồng thời lại đưa tác phẩm vào để xin được trao giải, thế thì cái tập thể ấy có còn đạt được tiêu chuẩn gì gọi là dân chủ, gọi là công bằng nữa hay không? Thì bố thấy ông Phan Khôi nói chuyện ấy rõ là được chứ. Cho nên bố chỉ khoanh lại, nói về ông ấy từ 1945 trở về trước cho tiện.

Thật tội cho nhà học giả, về tri thức và lương tâm, rõ ràng là ông đã không thể làm được cái việc bị giao, nhưng vẫn phải làm, vì vậy muốn làm được thì phải vận dụng toàn bộ trí tuệ học giả của mình để làm một việc thậm chí ít trí tuệ là bới lông tìm vết. Người con chờ đợi bài viết của người bố với lòng tin rằng ông chỉ phê phán một cách chừng mực thôi.

Khi viết xong bài Quan điểm phản động, phản khoa học của Phan Khôi phải chăng là học mót của Hồ Thích? Nguyễn Đổng Chi đưa cho con xem thì anh hơi bị choáng vì thấy cha mình viết với lời lẽ nặng quá. Vì kính trọng bố, người con không nói gì, vả lại bấy giờ anh cũng nghĩ Phan Khôi sai mặc dù anh chưa biết được nhiều lắm về cụ. Anh tự trấn an: một người nghiêm cẩn như bố mà phê phán đến thế, thì chắc là phải đúng. Bài này sau đó đăng trong Tập san Văn Sử Địa số 41 tháng 6/1958.

“Sau này con cố gắng sửa sai lầm của bố”

Chuyện đến đó coi như xong, mãi lâu sau bố con họ không đả động đến nữa. Thế nhưng có một lần, nhân câu chuyện gì đó, Nguyễn Đổng Chi có nói lại với người con trai:

– Bố ân hận quá, đã nói những chuyện không đúng về cụ Phan Khôi, bởi vì cụ Phan Khôi từ trước cách mạng đã được dư luận coi là Ngự sử văn đàn, là một người rắn rỏi, cứng cỏi, thẳng thắn. Ngay với chính quyền thực dân Pháp từ thập kỷ 20 ông ấy đã dám nêu lên nhiều vấn đề xã hội, chính sách cai trị của họ mà không sợ. Cho nên những điều ông ấy viết bao giờ cũng có tính chất đối thoại với người khác. Mà đối thoại chính là cái biểu hiện của sự dân chủ. Vì thế mà bố nghĩ, bố đã phê phán trúng vào chỗ đó thì chính là bố đã theo đuôi để góp phần đưa đến không khí mất dân chủ trong cái bài của bố.

Bây giờ nghe thuật lại điều này, chúng ta bắt đầu nhận ra sự can đảm của một nhà trí thức, chia sẻ với ông sự trầm ngâm rất lâu sau câu ông vừa nói với người con trai. Chắc chắn là ông đau lắm, nhưng ông cố nuốt nỗi đau đó vào trong để nó tiếp tục chà xát lương tri ông, để nó không cho ông sống yên ổn. Chẳng ai bắt ông phải làm thế, nhưng ông tự bắt mình phải làm thế, như là một sự sám hối. Và ông đã đi từ sự trăn trở, quặn đau để rồi đạt đến sự giải thoát, thanh thản. Giây phút ấy vụt lóe lên thứ ánh sáng của lương tri được bảo toàn, một lương tri hiếm thấy vào thời ấy ở những trí thức như ông.

Mùa xuân năm 1984, lần đầu tiên Nguyễn Đổng Chi được cử đi nghiên cứu ở Liên Xô chừng 2 tháng, ông không chịu nổi cái giá rét của xứ bạch dương, nên khi về bị ốm khá nặng. Nguyễn Huệ Chi đến thăm bố. Thấy con đến, như chỉ chờ có thế, Nguyễn Đổng Chi nói tiếp câu chuyện tưởng đã dừng lại từ ngày nào:

– Bố thấy ở Liên Xô có hai điều đáng lưu ý: Một là việc nghiên cứu Đông phương học của họ đến nơi đến chốn, chứ không phải là nóng đâu phủi đấy như chúng ta. Họ giải quyết việc gì cũng rất hệ thống. Nhưng điều thứ hai bố thấy họ có chỗ này không được: tức là họ vẫn đặt công việc nghiên cứu vào một đường rãnh (chính trị – khi thuật lại, con trai ông thêm vào cho rõ ý người nói) mà mọi người đều phải trượt trên cái đường rãnh ấy; cuối cùng thì người nào cũng quy về một điểm mà không còn nhìn thấy sự đa dạng trong nghiên cứu nữa.

Đến khi khỏe lại rồi, Nguyễn Đổng Chi vẫn tiếp tục mạch chuyện ấy với người con trai, ông nói:

– Thật ra nước mình không phải là một nước có lý luận và cũng không có triết học, chỉ là một nước thực tiễn thôi. Cho nên việc nóng đâu phủi đấy là chuyện bình thường. Và việc mà bố gán cho Phan Khôi là học mót cái thực dụng của Hồ Thích mà Hồ Thích thì học mót của J. Dewey, là sai.

Bởi vì một chủ nghĩa thực dụng như của J. Dewey nhìn cho thấu đáo là lớn lắm chứ không thể coi thường, và chuyện ông Hồ Thích cắt gọt chỗ này chỗ khác, ông ấy áp dụng vào Trung Hoa cho đúng theo điều kiện thực tiễn của Trung Hoa, cái đó cũng bình thường. Còn chúng ta vốn quen học lại của Trung Hoa cũng chẳng có gì lạ. Do đó, nói rằng Phan Khôi đã học mót Hồ Thích và Hồ Thích thì đã học mót J. Dewey, là một lời phê phán quá nóng vội.

Rồi ông dặn lại người con:

– Sau này nếu có điều kiện thì con cố gắng làm thế nào sửa được cái sai lầm của bố.

Ghi nhớ lời bố dặn như là một di chúc, nguời con trai của ông càng về sau càng thấy những lời bố mình nói là rất đúng, và theo ông, sự ân hận của bố ông là sự ân hận của một người có lương tri, có tư cách của một trí thức. Đã có nhiều người gợi ý với ông nên làm toàn tập Nguyễn Đổng Chi, nhưng ông chỉ cười, không nói gì.

Không nói gì, bởi vì ông biết là chưa thể làm được. Đã làm toàn tập thì nhất định phải đưa hết các bài nghiên cứu của tác giả vào, dù hay dù dở, tức là phải có cái bài không vẻ vang gì cho bố ông là bài phê phán Phan Khôi. Ông quyết không giấu diếm ai hết, để bạn đọc thấy rõ cái bài đó đã làm cho bố ông xấu hổ như thế nào.

Công khai lời bố dặn, đã là sự can đảm và trung hiếu của người con đối với bố. Ở đây, người con trai của ông còn làm hơn thế. Trong thời gian biên tập bộ Từ điển Văn học – Bộ mới, nhận lời ủy thác của Văn Tâm – một người cũng lao đao trong thời Nhân văn – Giai phẩm – ông đã bổ sung, chỉnh sửa lại mục từ “Phan Khôi” do Văn Tâm viết từ nhiều năm về trước, sau này Văn Tâm rất muốn sửa mục từ ấy đi cho đúng thực chất, giá trị của đối tượng mình viết, nhưng bệnh tật không cho Văn Tâm kịp làm. Tuy rằng nhận lời ủy thác của Văn Tâm, nhưng trong thâm tâm mình, người con trai của Giáo sư Nguyễn Đổng Chi muốn tự mình thực hiện lời di chúc của bố để rửa mối nhục mà bố ông đã bị buộc phải gây ra cho mình.

Cũng trong Từ điển văn học – Bộ mới, các mục từ viết về những tác gia Nhân văn – Giai phẩm, ông rất quan tâm và đều có sửa chữa hoặc trực tiếp viết để ít nhất cũng lấy lại được cái nhìn tương đối đúng đắn – tương đối thôi chứ vẫn chưa nói được hết giá trị thực mà họ có. Cũng ở cuốn từ điển này, ông tự mình đảm nhiệm mục từ “Hồ Thích”, cốt là để giải oan phần nào cho cái gọi là chủ nghĩa thực dụng (le pragmatisme) học mót J. Dewey của Hồ Thích mà bố ông đã cực lực phê phán.

Sự khả kính của hai bậc thức giả là cha và con khiến người viết bài này tự hỏi: Chẳng lẽ chỉ vì vướng cái đinh là bài phê phán Phan Khôi cách đây những 50 năm, mà công trình Nguyễn Đổng Chi toàn tập cứ phải dừng lại, và dừng đến bao giờ?

 

Phan An Sa
(Theo Tạp chí Xưa và Nay, số tháng 10/2009)

 

Trở về trang chính

CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Ngày tình yêu nói chuyện với em

Dẫu xa cách, bạn ơi đừng buồn nhé
Lời yêu thương ta đã nói nhau rồi
Khi mình đã mến yêu trao cảm nhận
Mối chân tình trân quý bạn mình ơi

Học điều hay thêm yêu đời sống đẹp
Càng thiêng liêng tình bạn kết lâu bền
Giữa những người hiền trọng tình thân ái
Chung vui buồn sướng khổ chẳng hề quên.

Đi như dòng sông suốt đời chảy mãi
Dòng Linh Giang hoà quyện nước Hương thơm
Cửu Long mênh mông, sông Thương bến nhớ
Sông Lam xanh và Nhật Lệ  trong.

Dẫu xa cách , bạn ơi, mình mãi nhớ
Sóng yêu thương đằm thắm vỗ trong lòng.
Ta đã ở trong nhau dịu dàng giấc ngủ
Chút hương thầm trong trẻo hoá mênh mông.

Hoàng Kim

Trở về trang chính

CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Thơ cổ và video bốn mùa



NGỌC PHƯƠNG NAM . Nguyễn Chu Nhạc trong bài Cổ thi vịnh Bốn mùa đã viết:  ” Hồi còn đi học, tôi có 2 năm sống ở nhà người cậu ruột, tại Thị trấn Bần Yên Nhân (Hưng Yên ), nơi có sản vật Tương Bần nổi tiếng gần xa. Ngày ấy, trên bức tường nhà người cậu có dán bộ tranh vịnh Bốn mùa, in trên giấy màu do NXB Văn Hóa ấn hành. Bộ tranh giấy in hình vẽ theo thứ tự bốn mùa trong năm : Xuân-Hạ-Thu-Đông với bốn loài cây hoa tiêu biểu cho từng mùa, là Hoa Mai ( Xuân ), Hoa Hồng ( Hạ ), Hoa Cúc ( Thu ), Tùng bách ( Đông ) . Bên dưới mỗi bức lại là một câu thơ trong bài cổ thi vịnh Bốn mùa, như sau :  Xuân thiên mai nhụy phô thanh bạch,/ Hạ nhật hồng hoa đấu hảo kỳ,/ Cúc ngạo thu tình hương vạn hộc,/ Tùng lăng đông tuyết ngọc thiên chi.” Bài cổ thi, được người ta dịch nghĩa nôm na: Mùa xuân, hoa mai phô nhụy trong trắng,/ Mùa hạ, hoa hồng khoe sắc thắm tươi/  Mùa thu, hoa cúc tỏa hương thơm ngát,/ Mùa đông, ngàn cành tùng tuyết phủ như ngọc. Kể từ ngày ấy, đã gần bốn mươi năm, tôi vẫn còn thuộc bài thơ âm Hán Việt đó cho đến tận giờ. Sau này, tôi có ý thức tìm kiếm, nhưng mãi vẫn không có văn bản Hán Nôm. Xuân này, tình cờ dạo chơi chốn Hà Thành, tôi đã bắt gặp, và sưu tầm được bài cổ thi này, dưới dạng một bức thư pháp. Tự thân, thấy vui vì điều ấy. Nay xin khoe với mọi người.”
.

Nguyên văn:

Xuân thiên mai nhụy phô thanh bạch,
Hạ nhật hồng hoa đấu hảo kỳ,
Cúc ngạo thu tình hương vạn hộc,
Tùng lăng đông tuyết ngọc thiên chi
Dịch nghĩa:
Mùa xuân, hoa mai phô nhụy trong trắng,
Mùa hạ, hoa hồng khoe sắc thắm tươi,
Mùa thu, hoa cúc tỏa hương thơm ngát,
Mùa đông, ngàn cành tùng tuyết phủ như ngọc. 

Dịch thơ:

Trời xuân mai trắng khoe thanh bạch
Rực thắm hồng hoa giục hạ sang
Ngạo nghễ tình thu hương ngan ngát
Đông về ngàn tuyết ngọc ôm cành

(Bản dịch của Yên Ba )

BỐN MÙA (1)Xuân về mai phô nhụy trắng,
Hạ sang hồng thắm sắc tươi,
Thu qua cúc ngát hương trời,
Đông đến tùng xanh tuyết phủ!

BỐN MÙA (2)

Xuân về mai nở trắng xuân,
Hạ sang hồng thắm, ve ngân trời hè. ,
Cúc vàng Thu, ngát hương quê,
Đông xanh tùng ngọc, lạnh về tuyết rơi!

(Bản dịch của Thầy giáo già)

Trời xuân mai nhụy bày trong trắng
Thắm sắc hồng hoa nở hạ sang
Cúc nhớ thu tình hương khắp nẻo
Ngàn tùng ôm tuyết ngọc trời đông.

(Bản dịch của Đặng Đình Nguyễn)

Kính mời các bạn nối tiếp các bản dịch thơ
hoạ và thư pháp.Spring, Summer, Fall, Winter… and Spring

Tuyệt phẩm video tập 1-10 và phụ đề
Bản tiếng Anh trọn bộ 10 tập

Xem tập 1 bấm vào đường link dưới đây:

http://www.youtube.com/embed/EII4ZmT47Oc

“Xuân, Hạ, Thu, Đông … rồi Xuân” (Spring, Summer, Fall, Winter … and Spring) là 1 phim đặc biệt của đạo diễn Hàn Quốc Kim Ki-duk; phim vừa có nét dục vọng bản ngã như trong “Bad Guy” (2001) hay “The Isle” (2000) của ông, lại vừa phiêu diêu thoát tục trong cái đẹp hút hồn của tự nhiên. Phim rất ít đối thoại, xuyên suốt thời gian là sự luân hồi của bốn mùa, là cuộc sống trần tục ngay trong cửa Phật; xứng đáng là 1 bài thơ tuyệt tác về đời người. Phim chất lượng cao  tiếng Việt xem tại đây

http://www.youtube.com/playlist?list=PL0E759C418A3AC041&feature=mh_lolz

Trở về trang chính

CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC