Linh Giang (Sông Gianh)

DÒNG SÔNG QUÊ HƯƠNG

Hãy học thái độ của nước mà đi như dòng sông
Hoàng Kim
Nhà mình gần ngã ba sông
Rào Nan, chợ Mới, nguồn Son, Quảng Bình
Linh Giang sông núi hữu tình
Nơi đây cha mẹ sinh thành ra conChèo thuyền cho khuất bến Son
Để con khỏi chộ nước non thêm buồn

Câu ru quặn thắt đời con
Mẹ cha mất sớm, con còn trẻ thơRa đi từ bấy đến chừ
Lặn trong sương khói bến đò sông quê
Ngày xuân giữ vẹn lời thề
Non sông mở cõi, tụ về trời Nam.

River hometown
Hoang Kim Learning the attitude of water that goes like the riverMy house is near a confluence
Rao Nan, Cho Moi, Nguon Son, Quang Binh
Linh River charming Mountain River
The place where I was born.

“Rowing far away the SON wharf
Not to see our village that makes me sadder ”
Lullaby makes me heart- rending
My parents died early when I was a baby.

Leaving our village since then
Diving in smog from the wharf of our river
Keeping full oath in Spring days
When the country unify, we’ll live together in the South

English translation
by Ngocphuong Nam

LINH RIVER
Hoang Kim

Learning the attitude of water that goes like the river

By confluence sited is my home
Rao Nam, Cho Moi, Nguon Son, Quang Binh
Linh river of charming
That is place releasing a person

Rowing out of the Son
Let is the upset not involved in my mind
Such a sad lunlaby
Parents is dead left five child barren

Leaving home since then
Smog of wharf is driven my life
When Vietnam unified
The South chosen the homeland to live.

English translation
by Vu Manh Hai

Xem thêm:

“LINH GIANG” LÀ SÔNG NÀO ?

Bulukhin (Nguyễn Quốc Toàn)

Đang Chưa biết  viết gì lên blog thì báo Quảng Bình có thư gửi Bu mời viết báo xuân và báo tết. Xong được một bài Bu post lên multi mời các bạn đọc chơi và nếu có có lời góp  ý chỉ bảo thì Bu tui cảm ơn lắm

Đã từ lâu, người dân Quảng Bình và những ai quan tâm đến sử ký,  địa lý nước nhà, đều nghĩ rằng sông Gianh trước đây có tên là Linh Giang.  Nhưng mới đây, tạp chí Xưa & Nay – Hội khoa học Lịch sử Việt Nam số 341 tháng 10 năm 2009  đăng bài  viết của ông Tôn Thất Thọ có tựa đề   “LINH GIANG” LÀ SÔNG NÀO?  Ông dẫn ra các tư liệu lịch sử có đề cập đến tên Linh Giang, rồi chọn lấy tư liệu nào có niên đại cổ nhất để kết luận Linh Giang là tên cũ của sông Hương Thừa Thiên Huế, chứ không phải tên cũ của sông Gianh ở Quảng Bình. Tóm tắt bài viết của ông Thọ như sau:

1– Đại Nam nhất thống chí (ĐNNTC) được biên soạn trước năm Tự Đức 29 (1875) viết: “Sông Linh Giang (sông Gianh): ở cách huyện Bình Chính 3 dặm về phía nam, bờ bắc thuộc huyện Bình Chính, bờ nam thuộc huyện Bố Trạch, lại có tên là sông Thanh Hà (ĐNNTC, T.2, sđd, tr40). Như thế thì ĐNNTC được biên soạn vào thời điểm sớm nhất cách nay cũng đã 134 năm.

2– Dư địa chí do ông Nguyễn Trãi soạn năm 1434  có đoạn viết: “Hải cập Vân, Linh Duy, Thuận Hóa. Hải, Nam Hải dã. Ải, sơn dã. Linh, thủy danh. Thuận Hóa, cổ Việt Thường bộ” (dịch: Bể cùng núi Vân, sông Linh là ở Thuận Hóa – Bể là bể Nam Hải. Vân là Ải Sơn. Linh là tên sông. Thuận Hóa xưa là bộ Việt Thường)

3– Ô Châu cận lục do Ông Dương Văn An nhuận sắc năm 1553 đã chép rất rõ ràng về tên gọi sông Linh Giang: “Sông Linh Giang . Sông do hai nguồn Kim Trà và Đan Điền chảy vào, rộng sâu vô cùng, khúc uốn quanh co rất hữu tình. Phía tây nam có đền thờ Tứ Vị và trạm dịch Địa Linh. Phía đông bắc có chùa Sùng Hóa và bia Hoằng Phúc. Các nha môn như hiến ty, huyện đường, chưởng vệ đều đặt ven hai bên sông” (ÔCCL, Sđd, tr.24). Đền chùa danh lam: Chùa Sùng Hóa. Chùa ở xã Lại Ân huyện Tư Vinh trước có sông Linh Giang bao bọc, sau có đầm lớn vòng quanh, phía nam có sông Hòa Tài, phía bắc có bia Sùng Phúc….đây là ngôi chùa nổi tiếng ở Hóa Châu (ÔCCL tr.78)

4– Phủ Biên tạp lục do ông Lê Quý Đôn soạn năm 1776 đã chép: “Sông cái Đan Điền nguồn ở rất xa, bờ nam bờ bắc sông đều có dân cư, thành lớn Thuận Hóa ở về hạ lưu. Huyện Kim Trà ở ngả

Ba sông Kim Trà …” (PBTL, Sđd, tr.96) … “Từ bến các xã phường Lộc Điền Lũ Đăng đi thuyền theo sông Đại Linh là phía hữu sông, Đại Linh tức sông Gianh , qua hai xã Vân Lôi, La Hà, đến ngả ba là chỗ sông Gianh và sông Son gặp nhau” (PBTL, Sđd, tr.101) 

5– Để xác định thêm một lần nữa vị trí chùa Sùng Hóa, tác giả viết: “Về vị trí chùa Sùng Hóa, sách Đại Nam nhất thống chí, T.1, quyển 2 phủ Thừa Thiên chép: “ở xã Triêm An huyện Phú Lộc. Năm nhâm dần bản triều Thái tổ thứ 45 thuyền ngự qua xã này nhận thấy phía đông bắc bờ sông cây cối xanh tươi, chim đàn lượn đỗ, lấy làm thích, bèn dừng thuyền ngắm cảnh, thấy có di tích chùa cổ, sai sữa chữa lại và cho tên hiện nay. Nay không biết chỗ nào” (ĐNNTC, T.1 Sđd, tr.183)

     Sau khi dẫn ra các tư liệu trên, ông Thọ kết luận “Qua các địa danh và vị trí địa lý đã dẫn chứng trong các tư liệu có trước khi ĐNNTC ra đời (mà cụ thể là Ô Châu cận lục), như KimTrà, Đan Điền huyện Tư Vinh …ta thấy rằng Linh Giang là tên gọi chỉ con sông Hương ở Thừa Thiên – Huế chứ không phải là sông Gianh như các sử thần nhà Nguyễn đã chép!”

*

*   *

Người viết bài này đã đối chiếu những tư liệu mà ông Thọ trích dẫn và thấy rằng ông dẫn đúng như những gì mà sách in ra. Tuy nhiên cùng một sự việc mà tư liệu này ghi khác tư liệu kia, lại được tác giả dẫn ra cùng một lúc làm người đọc rối rắm khó hiểu, dẫn đến sức thuyết phục bài viết giảm đi. Chẳng hạn ở mục 3, sách Ô Châu cận lục khẳng định “Chùa Sùng Hóa ở xã Lại Ân huyện Tư Vinh trước có sông Linh Giang bao bọc, sau có đầm lớn vòng quanh”, nhưng đến mục 5 tác giả lại trích ĐNNTC bảo rằng Chùa Sùng Hóa “ở xã Triêm An huyện Phú Lộc”. Ai cũng biết sông Hương được tính từ ngả ba Bằng Lãng, nơi gặp nhau của nguồn Tả Trạch và nguồn Hữu Trạch  cho đến cửa biển Thuận An dài 33 km làm sao mà chảy qua địa phận huyên Phú Lộc được. Cũng ở mục 3, ông Dương Văn An viết trong Ô Châu cận lục: “Phía  tây nam (sông Linh Giang) có đền thờ Tứ Vị và trạm dịch Địa Linh. Phía đông bắc (sông Linh Giang) có chùa Sùng Hóa và bia Hoằng Phúc”. Như vậy, tên chùa Sùng Hóa có từ thời nhà Mạc, nhưng đến mục 5 thì tên chùa Sùng Hóa lại do “…Bản triều Thái tổ thứ 45 thuyền ngự qua xã này nhận thấy phía đông bắc bờ sông cây cối xanh tươi, chim đàn lượn đỗ, lấy làm thích, bèn dừng thuyền ngắm cảnh, thấy có di tích chùa cổ, sai sửa chữa lại và cho tên hiện nay”. Vậy thì tên chùa Sùng hóa do bản triều Thái tổ thứ 45 đặt ra hay đã có từ thời nhà Mạc. Và cứ theo ông Lê Quý Đôn (mục 5) nói rằng sông Đại Linh là sông Gianh. Chữ nôm: “sông” trước hai chữ “Đại Linh” là cách nói nửa nôm nữa Hán, vậy nếu nói thuần túy theo từ Hán Việt thì sông Đại Linh chính là Đại Linh Giang. “Đại” ở đây là tính từ chỉ sự lớn, còn Linh Giang là danh từ chỉ tên sông.  Đương nhiên lớn để so sánh với nhỏ, vậy xin dẫn ra đây vài số liệu nói về quy mô giữa sông Gianh và sông Hương.

– Chiều dài: Sông Gianh 160 km, sông Hương 30 km

– Lưu lượng trung bình: Sông Gianh 252 m3/s, sông Hương 179m3/s

– Diện tích lưu vực: Sông Gianh 4.680 km2, sông Hương 713 km2

Cũng cần nói thêm, từ Gianh không có nghĩa, nó chỉ là phương ngữ của người miền bắc chỉ cây cỏ tranh, trong thành ngữ “nhà gianh vách đất”. Tôi tin là người Quảng Bình từ xa xưa không dùng từ Gianh vô nghĩa đặt cho tên sông, mà do biến thể của một từ  nào đó chẳng hạn từ  ranh trong “ranh giới” thời Trịnh Nguyễn phân tranh, hoặc từ “Giang” trong Đại Linh Giang như đã nói.  

Và cứ cho là sông Hương đã từng có tên là Linh Giang thì việc trùng tên giữa hai con sông cũng không có gì lạ. Ở Việt Nam ta  việc trùng địa danh khá nhiều: Chẳng hạn Thừa Thiên – Huế có phá Hạc Hải thì huyện Quảng Ninh của Quảng Bình cũng có đầm Hạc Hải. Quảng Bình có sông Nhật Lệ thì ở Hà Tĩnh cũng có núi Nhật Lệ ở địa phận hai xã Ngụy Dương và Đại Nại (ĐNNTC . tập 2, tr. 90,  nxb Thuận Hóa 1992). Vậy thì có hai sông Linh Giang, một lớn ở Quảng Bình và một nhỏ ở Thừa Thiên Huế cũng là chuyện thường. Người viết bài này cho rằng các sử quan của Quốc sử quán triều Nguyễn khi viết Đại Nam nhất thống chí không thể không tham bác các sách Ô Châu cận lục,  Dư địa chí, Phủ biên tạp lục. Thậm chí họ còn tham bác cả Tấn thư Châu quận chí mà học giả Đào Duy Anh trích ra trong “Đất nước Việt Nam qua các đời” (nxb Thuận Hóa 1994). Ở trang 80 sách này viết: “Tấn thư Châu quận chí nói rằng năm Thái Khang thứ 10 chia quận Tây Quyển mà lập huyện Thọ Linh, sông Thọ Linh là sông Linh Giang”. Thái Khang thứ 10 là năm 290 đời vua 

Vũ Đế thời Tây Tấn cách nay khoảng 1719 năm. Ngày nay huyện Thọ Linh không còn nữa nhưng Thọ Linh vẫn là tên của một thôn thuộc xã Quảng Sơn, huyện Quảng Trạch, Quảng Bình. Hai chữ Thọ Linh  minh chứng cho lời ghi của Tấn thư Châu quận chí như đã trích dẫn.  Vậy, Phủ biên tạp lục gọi sông Gianh là sông Đại Linh, tức là Đại Linh Giang, dân chúng nói gọn hơn: Linh Giang, hoàn toàn phù hợp với Đại Nam nhất thống chỉ của Quốc sử quán triều Nguyễn vậy.

I have a dream Kim love life Linh Giang


(xem tiếp)

Sông Gianh chín nhịp cầu

Tâm tình với sông Gianh

Ðôi bo sông Gianh

Trở về trang chính

CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Advertisements

Thơ cổ và video bốn mùa



NGỌC PHƯƠNG NAM . Nguyễn Chu Nhạc trong bài Cổ thi vịnh Bốn mùa đã viết:  ” Hồi còn đi học, tôi có 2 năm sống ở nhà người cậu ruột, tại Thị trấn Bần Yên Nhân (Hưng Yên ), nơi có sản vật Tương Bần nổi tiếng gần xa. Ngày ấy, trên bức tường nhà người cậu có dán bộ tranh vịnh Bốn mùa, in trên giấy màu do NXB Văn Hóa ấn hành. Bộ tranh giấy in hình vẽ theo thứ tự bốn mùa trong năm : Xuân-Hạ-Thu-Đông với bốn loài cây hoa tiêu biểu cho từng mùa, là Hoa Mai ( Xuân ), Hoa Hồng ( Hạ ), Hoa Cúc ( Thu ), Tùng bách ( Đông ) . Bên dưới mỗi bức lại là một câu thơ trong bài cổ thi vịnh Bốn mùa, như sau :  Xuân thiên mai nhụy phô thanh bạch,/ Hạ nhật hồng hoa đấu hảo kỳ,/ Cúc ngạo thu tình hương vạn hộc,/ Tùng lăng đông tuyết ngọc thiên chi.” Bài cổ thi, được người ta dịch nghĩa nôm na: Mùa xuân, hoa mai phô nhụy trong trắng,/ Mùa hạ, hoa hồng khoe sắc thắm tươi/  Mùa thu, hoa cúc tỏa hương thơm ngát,/ Mùa đông, ngàn cành tùng tuyết phủ như ngọc. Kể từ ngày ấy, đã gần bốn mươi năm, tôi vẫn còn thuộc bài thơ âm Hán Việt đó cho đến tận giờ. Sau này, tôi có ý thức tìm kiếm, nhưng mãi vẫn không có văn bản Hán Nôm. Xuân này, tình cờ dạo chơi chốn Hà Thành, tôi đã bắt gặp, và sưu tầm được bài cổ thi này, dưới dạng một bức thư pháp. Tự thân, thấy vui vì điều ấy. Nay xin khoe với mọi người.”
.

Nguyên văn:

Xuân thiên mai nhụy phô thanh bạch,
Hạ nhật hồng hoa đấu hảo kỳ,
Cúc ngạo thu tình hương vạn hộc,
Tùng lăng đông tuyết ngọc thiên chi
Dịch nghĩa:
Mùa xuân, hoa mai phô nhụy trong trắng,
Mùa hạ, hoa hồng khoe sắc thắm tươi,
Mùa thu, hoa cúc tỏa hương thơm ngát,
Mùa đông, ngàn cành tùng tuyết phủ như ngọc. 

Dịch thơ:

Trời xuân mai trắng khoe thanh bạch
Rực thắm hồng hoa giục hạ sang
Ngạo nghễ tình thu hương ngan ngát
Đông về ngàn tuyết ngọc ôm cành

(Bản dịch của Yên Ba )

BỐN MÙA (1)Xuân về mai phô nhụy trắng,
Hạ sang hồng thắm sắc tươi,
Thu qua cúc ngát hương trời,
Đông đến tùng xanh tuyết phủ!

BỐN MÙA (2)

Xuân về mai nở trắng xuân,
Hạ sang hồng thắm, ve ngân trời hè. ,
Cúc vàng Thu, ngát hương quê,
Đông xanh tùng ngọc, lạnh về tuyết rơi!

(Bản dịch của Thầy giáo già)

Trời xuân mai nhụy bày trong trắng
Thắm sắc hồng hoa nở hạ sang
Cúc nhớ thu tình hương khắp nẻo
Ngàn tùng ôm tuyết ngọc trời đông.

(Bản dịch của Đặng Đình Nguyễn)

Kính mời các bạn nối tiếp các bản dịch thơ
hoạ và thư pháp.Spring, Summer, Fall, Winter… and Spring

Tuyệt phẩm video tập 1-10 và phụ đề
Bản tiếng Anh trọn bộ 10 tập

Xem tập 1 bấm vào đường link dưới đây:

http://www.youtube.com/embed/EII4ZmT47Oc

“Xuân, Hạ, Thu, Đông … rồi Xuân” (Spring, Summer, Fall, Winter … and Spring) là 1 phim đặc biệt của đạo diễn Hàn Quốc Kim Ki-duk; phim vừa có nét dục vọng bản ngã như trong “Bad Guy” (2001) hay “The Isle” (2000) của ông, lại vừa phiêu diêu thoát tục trong cái đẹp hút hồn của tự nhiên. Phim rất ít đối thoại, xuyên suốt thời gian là sự luân hồi của bốn mùa, là cuộc sống trần tục ngay trong cửa Phật; xứng đáng là 1 bài thơ tuyệt tác về đời người. Phim chất lượng cao  tiếng Việt xem tại đây

http://www.youtube.com/playlist?list=PL0E759C418A3AC041&feature=mh_lolz

Trở về trang chính

CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Thanh Vân bình lão Chu đi chợ

NGỌC PHƯƠNG NAM . Tôi ngẫn người khi đọc bài của Thanh Vân bình “lão Chu đi chợ” và phải dụi mắt đọc lại thơ Chu Nhạc đi chợ Cốc pài”. Bài thơ rất hay! Lời bình tuyệt hay! Hóa ra có những bài thơ giản dị đến mức tưởng là bình thường, đôi khi lãng quên, nhưng khi có người bình chuẩn và đọc kỹ mới thấm. Ngẫm lại thấy thấm thía lời kết: “Thông điệp bài thơ thật hay được chuyển tải trong mười hai câu thơ lục bát giản dị về hình ảnh và câu chữ. Giản dị nhưng rất thanh cao, nho nhã. Rượu trong lòng, mật ủ trong ong, bạc đeo vòng cổ, những thứ muốn mua,thậm chí mua rất nhiều tiền cũng không ai bán. Mấy ai đã viết được như thế. Sau phiên chợ vùng cao đó, lão đã thay đổi. Chủ nhật nào lão cũng lai vợ đi chợ Mơ, một cái chợ nổi tiếng thành Thăng Long có đầy đủ mọi thứ trên trời dưới biển. Lão ngoan ngoãn đi theo vợ, nhận mớ rau, con cá … từ tay vợ, bỏ vào làn và xách một cách cẩn thận.” Chợt lặng người vì nhớ câu nói của Lê Quý Đôn “Kiến thức của mỗi người thì có hạn. Tài trí trong thiên hạ là vô cùng”. Và hiểu sâu thêm “Tam Bảo” của Lão Tử: Ta nắm lấy ba vật báu. Thứ nhất là nhân TỪ, thứ nhì là tiết KIÊM, thứ ba là BẤT TRANH, khiêm tốn. Cám ơn anh Chu Nhạc và anh Thanh Vân. Chúc những điều tốt lành và xuân mới.

Đi chợ Cốc pài
Thơ Nguyễn Chu Nhạc

Nào em đi chợ Cốc pài
Tìm mua một chút sương mai mang về…

Tìm rau, rau mãi trong khe
Tìm lá, lá vẫn ngủ mê trong rừng
Tìm trám, trám rụng đầu thung
Tìm hoa, hoa nở ở lưng chừng trời
Tìm ngũ sắc đã đồ xôi
Tìm vò rượu đã đầy vơi nỗi lòng
Tìm mật, mật ủ trong ong
Tìm bạc, bạc đã đeo vòng cổ ai,

Ngẩn ngơ váy áo Cốc pài
Mặt trời lên đỉnh sương mai chẳng còn…

“Trần Mai Vân đi chợ vùng cao”-  Ảnh Internet chỉ để minh họa

Lão Chu đi chợ

Thế là lão Chu đã đi chợ. Lão không đi chợ với vợ , làm người xách làn theo sau để tô điểm hạnh phúc gia đình. Lần này lão đi công tác, lão đi chợ vùng cao với người tình xưa:

Nào em đi chợ Cốc pài
Tìm mua một chút sương mai mang về…

Đọc kỹ thì lão đi một mình. Nào em là lão tưởng tượng ra thôi, hoặc cùng lắm là một cô gái đi đường nào đó. Lão đi mua một chút sương mai để mai về xuôi. Sương thì ở đâu chả có. Nhưng sương những vùng núi cao hạt rất to, rất trong và ai đã từng nếm sẽ thêm cảm giác mát lành . Mà lão đâu có nói về sương, lão qua hạt sương mai để nói về cốt cách trong sáng đẹp đẽ của con người vùng cao, nói về một mối tình đẫm sương mai lão đã đánh mất từ thời sinh viên.

Chợ vùng cao chỉ có cỏ cây, hoa lá, rượu, mật ong, vải thổ cẩm, vòng bac v.v… những thứ trao đổi giản đơn cho những cuộc đời đơn giản của đồng bào dân tộc. Lão tả chợ trong cái háo hức đi tìm hiểu cái lạ của con người miền xuôi lên miền ngược:

Tìm rau, rau mãi trong khe
Tìm lá, lá vẫn ngủ mê trong rừng
Tìm trám, trám rụng đầu thung
Tìm hoa, hoa nở ở lưng chừng trời
Tìm ngũ sắc đã đồ xôi
Tìm vò rượu đã đầy vơi nỗi lòng
Tìm mật, mật ủ trong ong
Tìm bạc, bạc đã đeo vòng cổ ai,

Ban đầu đọc những câu này tôi thấy chẳng có gì đặc sắc. Cứ tả như thế này thì kéo dài hàng trang được. Nhưng tôi đã nhầm. Người xưa từng nói, cái đẹp, cái hay đều nằm trong cái giản dị. Việc sắp xếp các thứ cần mua của lão đi từ rẻ đến đắt, đi từ vật chất đến tinh thần. Rau, lá, trám là vế thứ nhất. Hoa, rượu, ngũ sắc, mật, bạc là vế thứ hai . Nó rất đúng với tâm lý của người đi chợ. Mua cái rẻ trước, sau đó xem ước số tiền mang theo để mua những cái đắt hơn. Vật chất có trước , tinh thần có sau. Và những thứ cần mua liệt kê ra là những thứ đặc trưng của phiên chợ vùng cao. Có thể đảo các câu thơ với nhau, nhưng sẽ mất đi thứ tự mà tác giả đã chủ ý sắp đặt.

Chữ tìm cứ lặp đi lặp lại để lão mãi miết đi tìm. Tìm mua cái gì thì người khác đã mua mất rồi . Có lẽ do lão cò kè bớt một thêm hai. Hoặc tiền ít mà lão tham mua cả chợ. Những câu thơ ngao ngán nỗi lòng :
Tìm mật, mật ủ trong ong
Tìm bạc, bạc đã đeo vòng cổ ai,

Có lẽ lão đã gặp cô người yêu xưa đi chợ. Và lão bổng hiểu ra tất cả. Cái cốt cách, cái phẩm chất, cái đẹp trong giọt sương mai cần tìm không cần mua thì sáng sớm vẫn còn rất nhiều trên cành lá. Và khi chợ tàn, mệt mỏi vì chọn lựa, vì mặc cả, sực nhớ cái ban đầu định mua là giọt sương mai thì trời đã trưa và giọt sương đã tan mất. Đứng núi này trong núi nọ, tham bát bỏ mâm, đẽo cày giữa đường là vậy đó.

Thông điệp bài thơ thật hay được chuyển tải trong mười hai câu thơ lục bát giản dị về hình ảnh và câu chữ. Giản dị nhưng rất thanh cao, nho nhã. Rượu trong lòng, mật ủ trong ong , bạc đeo vòng cổ, những thứ muốn mua,thậm chí mua rất nhiều tiền cũng không ai bán. Mấy ai đã viết được như thế.

Sau phiên chợ vùng cao đó, lão đã thay đổi. Chủ nhật nào lão cũng lai vợ đi chợ Mơ, một cái chợ nổi tiếng thành Thăng Long có đầy đủ mọi thứ trên trời dưới biển. Lão ngoan ngoãn đi theo vợ, nhận mớ rau, con cá … từ tay vợ, bỏ vào làn và xách một cách cẩn thận.

Nguyễn Thanh Vân

Tình ca Tây Bắc – NSƯT Kiều Hưng – NSƯT Bích Liên – YouTube

Trở về trang chính
CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Xuân sớm Ngọc phương Nam

Yêu tha thiết một mùa không dám chạm.
Vạn mến thương em gửi trọn vào lời.
Thơ ngân mãi trong lòng ai hát vội.
Thơ dịu dàng mắc sợi nhớ mùa xanh. (1)

Trời trong vắt và em gần gũi quá
Đóa tường vi đỏ thắm nở bên thềm
Giọt sương ngọc lung linh trên lộc nõn
Đất giao hòa xuân sớm hóa mênh mông. (2)

(1) Thơ Tường Vi
(2) Thơ Hoàng Kim

Xem thêm:
Ý nghĩa các loài hoa
Xuân sớm Ngọc phương Nam và nhạc chọn lọc

Trở về trang chính
CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Buồn vui

KIMLOVELIFE. “Vui lò hương muộn, tri âm chọn người “.
HK họa thơ Phan Thị Hoài Thủy

BUỒN VUI

Chợ trời dạo bước buồn tênh
Bạn buồn ta cũng mông mênh nổi buồn
Buồn chi những chuyện vô thường
Buồn nghiêng trời đất, buồn vương nỗi niềm.

Vui ngày rồi lại vui đêm
Vui khi lấm láp, vui quên bụi trần
Vui khi ngậm ngãi tìm trầm
Vui lò hương muộn, tri âm chọn người

(HK)

CHỢ ...

Thơ Phan Thị Hoài Thủy

Chợ chiều
Thứ gì cũng héo
Cau trái mùa…
Trầu quắt muối sương
Vôi bán hết
Bên đường trơ Duyên muộn !

Chợ đời
Thứ gì cũng đắt
Ta nghèo…
Dạo bước chơi suông
Chân tấp tểnh
Vấp vào thì Con gái
Chốn Thơ ngây
Ai bán mùi hương xưa vụng dại..?
Góc phàm trần
Kẻ mua đầy túi những trần ai..!

Đến với bài thơ hay: Thiền Phật

NGỌC PHƯƠNG NAM. Anh Nguyễn Thanh Vân có bài thơ hay: Thiền Phật. Đoạn thơ cuối bất ngờ và cảm động. Hết thiền mở mắt ai ngờ Em đâu còn đó Em đi chợ rồi… Hiểu về minh triết đạo Phật, trước đây tôi đã viết: “Bản chất cuộc sống là hạnh phúc và đau khổ, vui vẻ và phiền muộn, sự thiếu hoàn thiện và vô thường. Minh triết của đời người hạnh phúc là biết sống thung dung, phúc hậu, thanh thản, an nhiên tự tại, nhận ra kho báu vô giá của chính mình, không lo âu, không phiền muộn, sống với tinh thần dịu hiền và trái tim nhẹ nhõm ”. Nay có duyên cùng anh, tôi lắng thêm suy ngẫm đời thường và chợt liên tưởng lời thơ của anh ngây ngất say Thiền Phật với câu thơ của Nguyễn Hoài Nhơn ngây ngất say Cảnh Tiên động Phong Nha “Đưa ta vào chốn phiêu bồng/ Em còn nặng nợ ta không nợ gì”


THIỀN PHẬT

Nguyễn Thanh Vân

Nào em, ta bắt đầu thôi
Lưng ngay đầu thẳng thế ngồi hoa sen
Thở sâu, thở chậm , thở êm
Lắng trong hơi thở là đêm là ngày.

Nào em, bắt đầu từ đây
Em nhắm mắt lại cho đầy nắng rơi
Một mình vất vả em ơi
Thân cò cánh vạc cuối trời cơn dông.

Đời là cõi tạm trần gian
Đời là bể khổ lo toan trăm bề
Đời là sân hận si mê
Em ơi ta bỏ ta về Bồng Lai.

Cõi Phật chốn ấy Thiên Thai
Non xanh nước biếc ai ai cũng cười
Ta như thuở trước đôi mươi
Anh nghe Phật Pháp,anh ngồi làm thơ

Hết thiền mở mắt ai ngờ
Em đâu còn đó
Em đi chợ rồi…

Đọc thêm

MINH TRIẾT SỐNG THUNG DUNG PHÚC HẬU

alt

THUNG DUNG. Bản chất cuộc sống là hạnh phúc và đau khổ, vui vẻ và phiền muộn, sự thiếu hoàn thiện và vô thường. Minh triết của đời người hạnh phúc là biết sống thung dung, phúc hậu, thanh thản, an nhiên tự tại, nhận ra kho báu vô giá của chính mình, không lo âu, không phiền muộn, sống với tinh thần dịu hiền và trái tim nhẹ nhõm.

Bài giảng đầu tiên của Phật

Tứ Diệu đế – Sự khổ: Nguyên nhân, Kết quả và Giải pháp – là bài giảng đầu tiên của Phật (Thích ca Mầu ni -Siddhartha Gamtama), nhà hiền triết phương đông cổ đại. Người là hoàng tử Ấn Độ, đã có vợ con xinh đẹp nhưng trăn trở trước sự đau khổ, thiếu hoàn thiện và vô thường (Dukkha) của đời người mà Phật đã xuất gia vào năm hai mươi chín tuổi để đi tìm sự giác ngộ. Người đã dấn thân suốt sáu năm trời tự mình đi tìm kiếm những vị hiền triết nổi tiếng khắp mọi nơi trong vùng để học hỏi và thực hành những phương pháp khác nhau nhưng vẫn chưa đạt ngộ.  Cho đến một buổi chiều ngồi dưới gốc bồ đề, thốt nhiên Người giác ngộ chân lý  mầu nhiệm lúc ba mươi lăm tuổi. Sau đó, Người đã  có bài giảng đầu tiên cho năm người bạn tu hành. Mười năm sau, Phật thuyết pháp cho mọi hạng người và đến 80 tuổi thì mất ở Kusinara (Uttar Pradesh ngày nay). Học thuyết Phật giáo hiện có trên 500 triệu người noi theo.

Bài giảng đầu tiên của Phật là thấu hiểu sự khổ (dukkha), nguyên nhân (samudaya), kết quả  (nirodha) và giải pháp (magga). Tôn giáo được đức Phật đề xuất là vụ nổ Big Bang trong nhận thức, san bằng mọi định kiến và  khác hẵn với tất cả các tôn giáo khác trước đó hoặc cùng thời trong lịch sử Ấn Độ cũng như trong lịch sử nhân loại. Phật giáo chủ trương bình đẳng giai cấp, bình đẳng giữa con người có máu cùng đỏ, nước mắt cùng mặn, hết thảy các pháp là vô ngã. Mục đích là vô ngã là sự chấm dứt đau khổ và phiền muộn để đạt sự chứng ngộ bất tử, Niết bàn.

Kinh Phật với triết lý vô ngã: Chân lý là suối nguồn, chứ không phải là con người thần thánh hoặc chân lý tuyệt đối. Vị trí độc đáo của Phật giáo là một học thuyết mang đầy đủ tính cách mạng tư tưởng và cách mạng xã hội (1). Tiến sĩ triết học Walpola Rahula là giáo sư Trường Đại học Tổng hợp Ceylan (Pháp) đã tìm tòi văn bản cổ và giới thiệu tài liệu nghiêm túc, đáng tin cậy này (Lời Phật dạy. Lê Diên biên dịch). (2)

Trúc Lâm Yên Tử Trần Nhân Tông

Trần Nhân Tông (Trần Khâm 1258- 1308) là vua Phật đời Trân (sau vua cha Trần Thánh Tông và trước vua Trần Anh Tông). Người là tổ sư Trúc Lâm Yên Tử, nhà chiến lược kỳ tài, nhà văn hóa kiệt xuất, nhà thơ lớn và Con Người Hoàn Hảo của dân tộc Việt Nam. Người đã viết: Cư trần lạc đạo, triêt lý nhân sinh rất nổi tiếng “Ở đời vui đạo, mặc tùy duyên/ Hễ đói thì ăn, mệt ngủ liền/ Kho báu trong nhà thôi tìm kiếm/ Vô tâm đối cảnh hỏi chi thiền.”

Trần Nhân Tông với 50 năm cuộc đời đã kịp làm được năm việc lớn không ai sánh kịp trong mọi thời đại của tất cả các dân tộc trên toàn thế giới : 1) Minh quân lỗi lạc, làm vua 15 năm (1278 – 1293) trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến hai lần đánh thắng quân Nguyên Mông là đội quân xâm lược hùng mạnh nhất thế giới của thời đó; 2) Vua Phật Việt Nam, tổ sư thiền phái Trúc Lâm Yên Tử  và Thái Thượng Hoàng 15 năm (1294-1306). 3) Nhà văn hóa và nhà thơ kiệt xuất với thắng tích Trúc Lâm Yên Tử và kiệt tác Trần Nhân Tông còn mãi với thời gian, hoàn thành sư mệnh của bậc chuyển pháp luân, mang sự sống trường tồn vươt qua cái chêt; 4) Người Thầy của chiến lược vĩ đại  yếu chống mạnh, ít địch nhiều bằng thế đánh tất thắng “vua tôi đồng lòng, toàn dân đồng sức”tạo lập sự nghiệp mở nước và thống nhất non sông Việt, mở đất phương Nam bằng vương đạo, thuận thời, thuận người. 5) Con người  hoàn  hảo, đạo đức trí tuệ, kỳ tài trị loạn, đã hưng thịnh nhà Trần và cứu nguy cho nước Việt tại thời khắc đặc biêt hiểm nghèo, chuyển nguy thành an, biến những điều không thể thành có thể. (3).

Giáo sư  sử  học Trần Văn Giàu nhận định:  “… chưa tìm thấy lịch sử nước nào có một người đặc biệt như Trần Nhân Tông ở Việt Nam. Tại nước Tàu lúc bấy giờ Triều đình nhà Tống rất hùng mạnh nhưng quân Nguyên Mông đã tràn xuống đánh thắng thần tốc, đến nỗi vua quan nhà Tống phải chạy ra biển và nhảy xuống biển tự vẫn. Tại Tây Á, Trung Á và một phần châu Âu cũng thua thảm hại, đến nỗi Giáo hoàng La Mã cũng lên tiếng sợ hãi. Trong lúc ấy Việt Nam so với phương Bắc thì quá nhỏ bé và quá nghèo yếu, thế mà Người dám không cho Nguyên Mông mượn đường xâm lược Chiêm Thành. Lại còn đánh bại ba lần Nguyên Mông xâm lược. Sau khi thắng giặc, Người lại lên núi sống. Người dám nghĩ, dám làm những việc không ai dám nghĩ chứ đừng nói đến làm !”  (4)

Khoa học và  Bí mật Tâm linh

Bộ phim Bí mật Tâm linh (The Meta Secret) giúp ta khám phá sâu sắc các quy luật của vũ trụ liên quan đến Luật Hấp Dẫn đầy quyền năng. Những lời tiên tri của các nhà thông thái ẩn chứa trong Kinh Vệ đà, Lời Phật dạy, Kinh Dịch, Kinh Thánh, Kinh Koran …, cũng như xuyên suốt cuộc đời của những con người vĩ đại trên thế giới đã được nghiên cứu, giải mã dưới ánh sáng khoa học; Bí mật Tâm linh là sự khai mở những nguồn năng lượng vô tận của chính bản thân mỗi con người đối với đồng loại, các loài vật và thiên nhiên. Suối nguồn chân lý trong di sản văn hóa, lịch sử, giáo dục, kinh tế, chính trị, quân sự,  ngoại giao của mỗi dân tộc và nhân loại lưu giữ nhiều điều sâu sắc cần đọc lại và suy ngẫm. (5)

Nhà bác học Anhstanh, cha đẻ của Thuyết tương đối, đã nhận định: “Khoa học mà thiếu tôn giáo là khập khiễng. Tôn giáo mà không có khoa học thì mù quáng” “Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó” Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học” . Cả ba câu này đều được trích từ Những câu nói nổi tiếng của Anhstanh (Collected famous quotes from Albert). (6)

Khoa học và thực tiễn giúp ta tìm hiểu những phương pháp thực tế để thể hiện ước mơ, mục đích sống của mình nhằm sống yêu thương, hạnh phúc,vui khỏe và có ích. Kinh Phật với triết lý vô ngã: Chân lý là suối nguồn chứ không phải là con người thần thánh hay chân lý tuyệt đối. Trúc Lâm Yên Tử Trần Nhân Tông có minh triết: Hãy quay về tự thân chứ không tìm ở đâu khác. Luật Hấp Dẫn, Thuyết Tương đối, Thành tựu Khoa học và Thực tiễn giúp ta khai mở nguồn năng lượng vô tận của chính bản thân con người và thiên nhiên. Đó là ba ngọn núi cao vọi của trí tuệ, là túi khôn của nhân loại.

Bản chất cuộc sống là hạnh phúc và đau khổ, vui vẻ và phiền muộn, sự thiếu hoàn thiện và vô thường. Minh triết của đời người hạnh phúc là biết sống thung dung, phúc hậu, thanh thản, an nhiên tự tại, nhận ra kho báu vô giá của chính mình, không lo âu, không phiền muộn, sống với tinh thần dịu hiền và trái tim nhẹ nhõm.

 Xem thêm:

The Life of Buddha – Cuộc đời đức Phật – phụ đề tiếng Việt – full   BBC video

Spring, Summer, Fall, Winter… and Spring (tuyệt phẩm video tập 1-10 và phụ đề)

(1) Trí tuệ bậc Thầy (Hoàng Kim í)
(2) Bài giảng đầu tiên. Hoàng Kim giới thiệu BBC Film The Life of Buddha, Cuộc đời đức Phật  và sách Lời Phật dạy. Tiến sĩ triết học Walpola Rahula, Lê Diên biên dịch. Nhà Xuất bản Mũi Cà Mau 1994 , 291 trang.
(3) Lên non thiêng Yên Tử (Hoàng Kim)
(4) Giáo sư Trần Văn Giàu bài học lớn trong câu chuyện nhỏ  (Hoàng Kim)
(5) Danh nhân Việt: Đọc lại và suy ngẫm (Hoàng Kim)
(6) Những câu nói nổi tiếng của Anhstanh về Phật Giáo (Huệ Minh)
(7) Đức Phật và con đường tuệ giác (Thượng Tọa Thích Huệ Thông)
(8) Lên Yên Tử sưu tầm thơ đức Nhân Tông (Hoàng Kim)
(9) Đạo Phật và Khoa học  (Thượng Tọa Thích Huệ Thông giới thiệu sách)
(10) Bí mật Tâm linh The Meta Secret: Video 1,2,3.4.5 Nguồn: Mr. Leon

Hoàng Kim (sưu tầm, tổng hợp, biên soạn)
NGỌC PHƯƠNG NAM, THUNG DUNG, DẠY VÀ HỌC

Xa khơi và chùm thơ về biển

NGỌC PHƯƠNG NAM. Lần trước trang dayvahoc đã tuyển chọn chùm thơ hay về biển. Trong số đó có những bài được nhiều người ưa thích như: Tổ quốc nhìn từ biển của Nguyễn Việt Chiến; Biển của Puskin; Biển của Xuân Diệu, Thơ viết ở biển của Hữu Thỉnh; Biển một bên và em một bên của Trần Đăng Khoa; Thuyền và biển của Xuân Quỳnh; Giao hưởng biển của Vũ Thanh Hoa; Biển bạc đầu nông nổi tuổi hai mươi của Nguyễn Trọng Tạo; Biển núi em và sóng của Đỗ Trung Quân; Núi và  biển Nha Trang của Hồ Tịnh Tâm và Video nhạc tuyển Đừng ví em là biển, nhạc Trần Thanh Tùng, thơ Minh Thiên, trình bày Anh Thơ. Lần này, mời các bạn thưởng thức tuyệt phẩm Xa khơi, nhạc Nguyễn Tài Tuệ, trình bày Anh Thơ và chùm thơ về biển của Tường Vi, Quỳnh Trâm, Hoàng Kim, … 

LỜI RU CỦA BIỂN

Tường Vi

Khi biển mặn cất lời ru êm ái, khi những cồn cào của sóng vẫy bờ xa, khi tim ta bồi hồi trong thương nhớ. Giữa những mặn nồng và cả những đắng cay. Biển vẫn vậy thì thào quyến rũ, sóng ôm bờ dìu dặt ngược xuôi. Giữa đêm khuya mình em lang thang trên bờ biển, em ngạc nhiên khi biển ấm vô cùng, sóng ôm chân em ấm áp vỗ về. Hơi ấm của ngày, hơi ấm của nắng vẫn còn trong sóng biển. Em biết lắm sóng xóa lấp vết chân trần của em trên cát, trong mịt mùng đêm tối mênh mông. Như thời gian trôi đi không trở lại, như những nỗi buồn cùng với niềm vui đang lặng lẽ biệt từ. Em bỗng thấy bóng mình nhỏ bé, giữa mênh mông của đêm và ánh trăng xa bàng bạc, giữa tiếng nhạc trong veo du dương thì thầm bí ẩn của biển sâu. Những con sóng bạc trong đêm tung bọt trắng, ôm chân em rồi lại lùi xa vào trong tối xa dần,xa dần rồi biến mất, em muốn gọi mà không làm sao cất tiếng , bởi vì sóng cứ trôi hoài trôi mãi thật xa. Mỗi lần đến là một lần tiễn biệt, con sóng nào cũng ấm cũng thiết tha, nhưng ra đi thì lần nào cũng vậy ,sóng bạc đầu mải đến với biển xanh. Bờ cát trắng chỉ mình em ở lại, sau mỗi lần hối hả mến yêu. Em nằm xuống để sóng ôm mình lần nữa, trong ấm áp nhẹ nhàng mà quấn quyện không gian, trong giây lát mà như ngàn ngàn ngày mong nhớ , bỗng lại chìm tan vợi hết buồn sâu. Sóng đã mang niềm vui trở lại, và mang đi những khắc khoải chờ mong. Lá của những cây dừa ven bờ cát mịn lách cách, lao xao đập hoài theo gió thổi, giữa miên man thương nhớ khôn nguôi, em chợt hiểu rằng anh là sóng, anh ra đi để anh lại trở về. Em chợt hiểu tình mình muôn đời chung thủy, để mỗi lần sóng biển lại ôm em, là một lần em thêm hạnh phúc , là một lần em tan hết miền đau. Anh ở đâu hỡi người tình biển, em yêu anh và em sẽ mãi đợi chỉ mình anh. Em chờ anh.

HOÀI VỌNG BIỂN

Quỳnh Trâm

Biển mặn mòi cất lời ru êm ái
Sóng cồn cào ru gọi bến bờ xa
Lời thầm thì rơi vào miền xa ngái
Bàn chân trần bối rối giữa bao la…

Nắng đã trốn từ khi nào vào biển
Để đêm về sóng ấm vỗ về em
Nỗi buồn nhớ bạc đầu con sóng biếc?
Ánh trăng mờ bàng bạc giữa trời đêm…

Tiếng biển hát trong veo như huyền thoại
Thăm thẳm sâu bí ẩn chuyện đại dương
Em bé nhỏ trong nỗi mình khắc khoải
Mong manh em với ngàn sóng đêm trường…

Mỗi lần đến, lại một lần tiễn biệt
Sóng nồng nàn hôn bờ cát… rồi xa
Bờ cát trắng đắm chìm trong hoài vọng
Sóng anh nơi nào…, em tìm mãi… thiết tha…

Nguồn: Blog Tường Vi

SÓNG YÊU THƯƠNG VỖ MÃI ĐẾN VÔ CÙNG

Hoàng Kim

Anh yêu biển tự khi nào chẳng rõ
Bởi lớn lên đã có biển quanh rồi
Gió biển thổi nồng nàn hương biển gọi
Để xa rồi thương nhớ chẳng hề nguôi

Nơi quê mẹ mặt trời lên từ biển
Mỗi sớm mai gió biển nhẹ lay màn
Ráng biển đỏ hồng lên như chuỗi ngọc
Nghiêng bóng dừa soi biếc những dòng sông

Qua đất lạ ngóng xa vời Tổ Quốc
Lại dịu hiền gặp biển ở kề bên
Khi mỗi tối điện bừng bờ biển sáng
Bỗng nhớ nhà những lúc mặt trăng lên

Theo ngọn sóng trông mù xa tít tắp
Nơi mặt trời sà xuống biển mênh mông
Ở nơi đó là bến bờ Tổ Quốc
Sóng yêu thương vỗ mãi đến vô cùng …

https://kimlovelife.wordpress.com/2011/10/30/xa-khơi-va-chum-thơ-về-biển/ 

xem tiêp:

Thơ hay vê biên (Hoàng Kim thu thập, tuyển chọn)
Chùm thơ vê biển (Cát Biển)
Chùm thơ về biên (Hoa Diên Vĩ)
Chùm thơ về BIỂN của Lương Đình Khoa

Trở về trang chính
CÂY LƯƠNG THỰC FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC